Các giống Bơ và kỹ thuật chăm sóc để đạt năng suất cao (phần 1)

So với các loại cây ăn quả khác bơ là loại cây dễ trồng, khả năng thích nghi rộng, chống chịu khá với các bất lợi của môi trường như hạn hán, gió, đất nghèo dinh dưỡng. Ngoài vấn đề về dinh dưỡng, bơ còn là một loại trái cây khá an toàn, do có vỏ dày nên hạn chế được các loài sâu hay côn trùng chích hút, thuốc bảo vệ thực vật rất ít được dùng cho cây bơ.

1. Khí hậu và chọn đất trồng Bơ

Bơ là loại cây nhiệt đới thích nghi rộng, có thể trồng ở vùng nhiệt đới gió mùa, độ cao từ 500 – 1000m so với mực nước biển. Cá biệt có một số giống bơ như giống bơ Hass lại thích nghi với khí hậu lạnh và độ cao trên 1000m. Còn hầu hết các giống bơ đều thích hợp với khí hậu Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh Tây Nguyên.

Nhìn chung cây bơ thích hợp với khí hậu nhiệt đới, và cận nhiệt đới. Các vùng có khí hậu quá lạnh không thích hợp để trồng bơ. Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.500 – 2.000mm, phân bổ rõ rệt thành 2 mùa nắng mưa, mùa nắng cây có thời gian xiết nước tự nhiên, để bung hoa và thụ phấn. Các giống Bơ truyền thống đã thích nghi với khí hậu cục bộ của từng địa phương vì vậy rất khó trồng ở những địa phương khác có khí hậu không tương đồng. Các giống Bơ ngoại nhập có khả năng thích nghi rộng hơn. Giống bơ Booth, Reed, Pinkerton, Sharwil có khả năng thích nghi rộng, có thể trồng hầu hết các tỉnh thành ở Việt Nam. Trong khi đó giống bơ Hass, Lamb Hass phù hợp với khí hậu lạnh, khả năng thích nghi tuy kém, nhưng giá trị kinh tế, giá trị xuất khẩu cao

Cây bơ trồng được ở nhiều loại đất nhưng thích hợp nhất ở đất đỏ bazan. Địa hình đất trồng bơ bắt buột phải thoát nước tốt, đây là lý do miền Tây Nam bộ khó phát triển được bơ. Độ pH đất từ 5 – 6, trên đất cà phê cần bổ sung vôi. Ở vùng đất quá dốc thì thiết kế theo đường đồng mức, tạo băng để hạn chế xói mòn. Đất phải có tầng cạnh tác dày tối thiểu 1m. Hạn chế trồng bơ ở các vùng đất pha cát, đất nhiều sỏi đá, cây có thể sống nhưng sức sinh trưởng kém.

 2. Chọn giống Bơ có giá trị kinh tế cao

Tùy theo khí hậu và thổ nhưỡng ở từng địa phương mà lựa chọn giống Bơ cho thích hợp. Các giống Bơ ngoài thường có khả năng thích nghi rộng hơn, sinh trưởng mạnh mẽ hơn các giống nội. Ngoài ra cần phải căn cứ chọn giống theo nhu cầu của thị trường để đạt hiệu quả kinh tế cao. 

Theo kinh nghiệm từ các hộ nông dân và doanh nghiệp, các giống Bơ sau đây là có tiềm năng kinh tế nhất: Bơ Booth, Reed, Hass và Lamb Hass, giống 034 và giống bơ tứ quý.

Bên cạnh giống, bà con phải chú ý đến phương pháp nhân giống. Bơ trồng từ hạt có tỷ lệ phân ly lớn trên nhiều tính trạng và chất lượng quả. Nên dùng cây ghép hoặc nhân giống vô tính để có được các đặc điểm nổi trội của giống, đảm bảo khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh, năng suất đạt cao, dạng quả và chất lượng quả đảm bảo được thị trường trong nước và phù hợp một số tiêu chuẩn xuất khẩu. 

 3. Mật độ và phương pháp trồng

  • Mật độ: khoảng cách 8m x 7m hoặc 9m x 6m.
  • Hố đào 50 x 50 x 50cm, bón lót cho mỗi hố 15kg phân chuồng đã ủ hoai, 0.5 ka phân lân và từ 0.3 – 0.5kg vôi bột tùy vào tình trạng đất.
  • Cắt bỏ đáy túi nilông, cắt bỏ những rễ mọc dài ra khỏi bầu. Rạch dọc bầu đất từ đáy lên khoảng 10cm. Khi trồng, đặt mặt bầu thấp hơn mặt đất 5cm, tiến hành lấp đất ½ bầu cây. Sau đó, rút túi nilon ra từ từ kết hợp cho đất vào hố trồng và nén nhẹ đất.
  • Không nên trồng cây quá sâu, mặt bầu cách mặt đất 3 – 5cm là hợp lý. Nếu trồng vào mùa khô, người trồng nên tạo hố cao đường kính 1m và cao 10cm để tiện việc tưới nước.
  • Sau khi trồng tưới đẫm nước cho cây. Tiến hành cắm cọc và dây nilon để cố định cây có thể sử dụng kết hợp lưới che chắn cho cây phát triển tốt.

Lưu ý:

  • Nếu trồng bơ ghép, cần gỡ bỏ lớp nilon quấn chồi ghép (dây ghép), tránh trường hợp lớp nilon phân hủy chậm gây bó cứng, cây dễ bị gẫy.
    • Cây mua từ vườn ươm cây giống, cần được làm quen nắng khoảng 1 tuần trước khi đem ra trồng. Vì trước đó cây được ươm và chăm sóc trong lưới che từ nhỏ, nếu trồng ngay dễ bị sốc, cháy lá hoặc héo đọt non

4. Tưới nước – bón phân cho cây Bơ

Bơ chịu hạn tốt, rất kỵ ngập úng, nhưng ở giai đoạn cây con bộ rễ chưa ăn sâu, cần thường xuyên kiểm tra độ ẩm của đất để tưới nước kịp thời. Giai đoạn cây lớn (năm thứ 2 trở đi) trong mùa khô, có thể tưới thành nhiều đợt, mỗi đợt cách nhau 25-40 ngày tùy tình hình khô hạn.

Cây con nên bón 4 -5 lần/năm, lượng bón tùy tuổi cây. Lượng phân bón tăng dần theo tuổi của cây và tăng nhiều hi cây bắt đầu cho quả. Trong giai đoạn này người trồng cần bón bổ sung Kali cho cây. Lượng phân bón ổn định ở năm thứ 9, thứ 10. 

Chi tiết lượng bón qua các giai đoạn như sau: 

Năm đầu tiên: Lượng phân trong hố còn nhiều, chỉ cần bón thúc bằng phân đạm, khi bón hòa phân vào nước rồi tưới vào gốc (tỷ lệ 1%, theo kinh nghiệm thực tế nên bón loại đạm xanh, một thìa canh pha với 10-15L nước). Tưới liên tục trong năm đầu, mỗi lần cách nhau 20-30 ngày.

Năm thứ 2 – 3: Là giai đoạn kiến thiết, bón mỗi cây 30kg phân chuồng + 500g lân + 500g ure + 500g kali, chia làm 4 đợt
+ Đợt 1: Cuối mùa mưa (tháng 9-10 DL) bón 100% phân chuồng + 100% lân
+ Đợt 2: Tháng 1-3 DL, Bón 40% ure + 20% kali
+ Đợt 3: Tháng 5-6 DL, Bón 20% ure + 40% kali
+ Đợt 4: Tháng 7-8 DL, Bón 40% ure + 40% kali còn lại

Năm thứ 3 trở đi: Giai đoạn kinh doanh, cây cần nhiều dưỡng chất hơn, ta vẫn bón thành 4 đợt với tỷ lệ như giai đoạn kiến thiết, nhưng tăng lượng phân mỗi gốc lên như sau 40 – 50kg phân chuồng + 1kg lân + 1kg ure + 1kg kali

Bên cạnh đó, mỗi năm bà con nên phun thêm phân bón lá cho cây (2-3 lần). Khi phun cần phun vào ngày mát trời, không mưa, phun sáng sớm hoặc chiều tối, phun ướt đều 2 mặt lá. 

Cách bón phân đối với phân hữu cơ và phân vô cơ

  • Phân chuồng (hữu cơ, vi sinh..): Đào rãnh sâu 30-40cm, bỏ phân và lấp lại, đào đối xứng mỗi năm 2 rãnh quanh tán cây, năm sau đào vị trí khác.
  • Phân hóa học (vô cơ): Xới nhẹ lớp đất mặt, bỏ phân và lấp đất tránh phân bị bốc hơi, bón theo tán lá của cây, chứ không bón vào gốc. Khi bón đất phải đủ ẩm, nếu cần thiết phải tưới nước để phân nhanh tan.

Lưu ý: Trong giai đoạn cây ra hoa và đậu quả non bà con nên ngưng nước và không bón phân.

5. Tỉa cành – tạo tán cho Bơ

Tiến hành 2 -3 lần/năm giai đoạn KTCB hoặc 1 lần sau thu hoạch, chú ý tỉa chồi của gốc ghép, tỉa những cành sâu bệnh sát đất, tỉa trống gốc nâng dần độ cao, tạo tán tròn đều thông thoáng đôi khi lệch về hướng gió lớn. Nên bỏ hoa ra trong năm đầu để cây đủ sức phát triển. Ơ cây còn nhỏ, chưa ổn định, điều kiện chăm kém, thiếu nước, tỉa không hợp lý đôi khi cây ra lệch mùa so với đặc tính giống!

(còn phần 2)

Be the first to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published.


*